Ngày 21/5/2026, Chính phủ ban hành Nghị-định-181-2026-NĐ-CP về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Theo đó, Nghị định này quy định về quản lý, sử dụng người giữ chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Đối tượng áp dụng bao gồm:
– Doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Luật Doanh nghiệp.
– Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ không quá 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết (sau đây gọi là doanh nghiệp có phần vốn nhà nước).
– Người giữ chức danh, chức vụ tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (sau đây gọi là người quản lý doanh nghiệp nhà nước), bao gồm:
+ Chủ tịch Hội đồng thành viên;
+ Chủ tịch công ty (đối với doanh nghiệp không tổ chức theo mô hình Hội đồng thành viên);
+ Thành viên Hội đồng thành viên;
+ Tổng giám đốc hoặc Giám đốc, trừ trường hợp thuê Tổng giám đốc, Giám đốc.
– Kiểm soát viên.
– Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ không quá 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết (sau đây gọi là người đại diện phần vốn nhà nước).
– Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Về nguyên tắc quản lý người quản lý doanh nghiệp nhà nước, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước được quy định như sau:
– Bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ.
– Bảo đảm tuân thủ đúng quy định của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp và pháp luật có liên quan; trường hợp có sự khác nhau thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành, bảo đảm phù hợp với quy định của cấp có thẩm quyền.
– Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, phân định rõ trách nhiệm của tập thể và trách nhiệm cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho người đại diện chủ sở hữu trực tiếp.
– Người quản lý doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước, kiểm soát viên không là cán bộ, công chức, viên chức.
– Trường hợp một người đồng thời đảm nhiệm nhiều chức vụ thuộc thẩm quyền quản lý của các cấp khác nhau thì việc xem xét, quyết định do cấp có thẩm quyền quản lý chức vụ cao nhất thực hiện.
Xem chi tiết tại Nghị-định-181-2026-NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 21/5/2026.
Nghị định 159/2020/NĐ-CP về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và Nghị định 69/2023/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 159/2020/NĐ-CP về quản lý người giữ chức danh, chức vụ và người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.
Trường hợp cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy định về công tác cán bộ có nội dung khác với quy định tại Nghị định này thì thực hiện theo quy định mới của cấp có thẩm quyền.
Cơ quan có thẩm quyền thành lập, quản lý quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, tổ chức khác theo quy định của pháp luật mà không phải cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập quyết định việc áp dụng quy định về công tác cán bộ theo quy định của Nghị định này đối với người quản lý quỹ, người quản lý tổ chức.
